Đón Tết Độc lập năm nay, 87 hộ đồng bào dân tộc Mông của 3 bản Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong, xã Tạ Bú (Mường La) có thêm một niềm vui mới - điện lưới quốc gia đã về bản.Ước mong của bà con đã thành hiện thực, có điện cuộc sống của bà con sẽ đổi thay, mở ra cơ hội xóa đói, giảm nghèo.
Chiếc xe bán tải ì ì bò ngược dốc đưa chúng tôi lên với bà con 3 bản Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong. Con đường đất men theo sườn đồi, dốc dựng đứng, nhiều cua tay áo xe phải “hai đỏ” mới vào được, mặc dù đã cài hai cầu, nhưng nhiều chỗ vẫn bị “ban khô” bánh quay tít, bụi mù mịt. Trong xe, ông Trần Duy Trinh - Phó Giám đốc Công ty Điện lực nói: Đi đóng điện mà còn thấy vất vả thế này, thế mới thực sự thấu hiểu khó khăn, nguy hiểm của những người công nhân xây lắp để đưa điện lưới quốc gia về với đồng bào.
Chúng tôi phải mất gần 1 tiếng để vượt hơn 6 km từ tỉnh lộ 106 lên bản. Nhìn hàng cột mới, với đường dây điện băng qua những vạt đồi, tôi thầm cảm phục những người thợ. Nhìn xuống phía chân đồi, con đập nhà máy thủy điện Sơn La sừng sững chặn dòng nước bạc. Mặc dù đang là mùa thu hoạch ngô, nhưng vừa tới nơi, ngay gần trạm hạ thế, bà con đã tập trung rất đông để chứng kiến một sự kiện quan trọng của bản, những người công nhân đang hối hả hoàn tất công việc cuối cùng để chuẩn bị đóng điện.
Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong là 3 bản của đồng bào dân tộc Mông, nằm bên vai phải đập thủy điện Sơn La, bà con định cư ở đây từ những năm cuối thập kỷ 70 của thế XX. Tuy nằm cách tỉnh lộ 106 và trung tâm huyện Mường La không xa, những năm qua đã có nhiều chính sách được thực hiện, đời sống của bà con dân tộc Mông nơi đây đã được cải thiện, nhưng do địa hình phức tạp nên đến nay vẫn chưa có điện lưới quốc gia. Ông Sồng A Sông, trưởng bản Nong Phụ cho biết: Sản xuất của bà con chủ yếu là trồng ngô và chăn nuôi đại gia súc, các bản đã có đường ô tô, nhưng chỉ đi được vào mùa khô. Mấy chục năm định cư rồi mà bản vẫn chưa có điện lưới quốc gia, hầu hết bà con vẫn phải sống trong cảnh đèn dầu, mấy năm gần đây, với sự hỗ trợ của nhà nước, bà đóng góp thêm để mua máy phát điện, nhưng chỉ chạy khoảng 2 tiếng mỗi tối thôi, muốn xem ti vi cũng khó, không có điện ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của bà con, các cháu học hành cũng vất vả.
Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng Công ty Điện Lực Miền Bắc, đầu năm nay, Công ty Điện lực Sơn La đã rà soát tình hình thực tế, thiết kế phương án cấp điện tối ưu và lựa chọn nhà thầu triển khai thi công. Vượt lên những khó khăn về địa hình, thời tiết, doanh nghiệp tư nhân xây dựng Ngọc Quyết đã bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng công trình. Sau gần 4 tháng thi công, đơn vị đã xây dựng xong 14 vị trí cột, kéo 2.680 mét đường dây 35kV, 4,5km đường dây 0,4kV, lắp cho mỗi hộ một công tơ, bảng điện, ổ điện và một bóng điện. Đồng thời, cán bộ Điện lực Mường La đã đến từng hộ hướng dẫn cách sử dụng an toàn, tiết kiệm điện cho bà con.
Gần trưa, mọi công việc chuẩn bị đã xong, trước sự chứng kiến của bà con dân bản, công nhân Điện lực Mường La chính thức đóng điện, đưa điện lưới quốc gia về với các bản vùng cao. Dòng điện bừng sáng trong mỗi nhà, ai cũng hân hoan, phấn khởi, dòng điện sáng đã đánh dấu một sự đổi thay trong cuộc sống của bà con. Tại nhà trưởng bản Sồng A Sông, chiếc ti vi mua từ lâu rất hiếm khi được mở, giờ vừa bật lên là người già, trẻ em trong bản đã kéo đến xem chật cả nhà.
Ông Sồng A Dua, năm nay gần 60 tuổi ở bản Nong Phụ cũng mừng ra mặt: Tôi sống ở bản này từ năm 1977 chỉ biết cái đèn dầu. Từ khi xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, buổi tối nhìn xuống thấy điện sáng, chỉ mong sao bản mình có điện. Hôm nay điện về bản rồi, mừng lắm, chiều phải bảo mấy cháu bắt con dê mổ ăn mừng. Bản đã có điện, lớp học cắm bản cũng đang được xây dựng, chỉ mong sao nhà nước sửa lại con đường để bà con đi lại và tiêu thụ sản phẩm đỡ vất vả hơn.
Còn anh Sùng A Dũng, bản Pa Toong cũng không dấu được niềm vui: Vụ ngô năm nay được mùa, tôi phải bán đi để mua cái ti vi về để biết tin tức, học cách làm giàu và cho các cháu xem mới được.
Dòng điện sáng, niềm mong ước bao đời của bà con Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong đã thành hiện thực. Dòng điện thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và ngành điện đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Chia tay bà con Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong, cuộc sống nơi vùng cao này đang thay đổi, mở ra một cơ hội xóa đói, giảm nghèo bền vững. Phía xa, dưới chân đồi, nhà máy thủy điện Sơn La đang tuôn dòng điện sáng.

Chúng tôi phải mất gần 1 tiếng để vượt hơn 6 km từ tỉnh lộ 106 lên bản. Nhìn hàng cột mới, với đường dây điện băng qua những vạt đồi, tôi thầm cảm phục những người thợ. Nhìn xuống phía chân đồi, con đập nhà máy thủy điện Sơn La sừng sững chặn dòng nước bạc. Mặc dù đang là mùa thu hoạch ngô, nhưng vừa tới nơi, ngay gần trạm hạ thế, bà con đã tập trung rất đông để chứng kiến một sự kiện quan trọng của bản, những người công nhân đang hối hả hoàn tất công việc cuối cùng để chuẩn bị đóng điện.
Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong là 3 bản của đồng bào dân tộc Mông, nằm bên vai phải đập thủy điện Sơn La, bà con định cư ở đây từ những năm cuối thập kỷ 70 của thế XX. Tuy nằm cách tỉnh lộ 106 và trung tâm huyện Mường La không xa, những năm qua đã có nhiều chính sách được thực hiện, đời sống của bà con dân tộc Mông nơi đây đã được cải thiện, nhưng do địa hình phức tạp nên đến nay vẫn chưa có điện lưới quốc gia. Ông Sồng A Sông, trưởng bản Nong Phụ cho biết: Sản xuất của bà con chủ yếu là trồng ngô và chăn nuôi đại gia súc, các bản đã có đường ô tô, nhưng chỉ đi được vào mùa khô. Mấy chục năm định cư rồi mà bản vẫn chưa có điện lưới quốc gia, hầu hết bà con vẫn phải sống trong cảnh đèn dầu, mấy năm gần đây, với sự hỗ trợ của nhà nước, bà đóng góp thêm để mua máy phát điện, nhưng chỉ chạy khoảng 2 tiếng mỗi tối thôi, muốn xem ti vi cũng khó, không có điện ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của bà con, các cháu học hành cũng vất vả.
Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng Công ty Điện Lực Miền Bắc, đầu năm nay, Công ty Điện lực Sơn La đã rà soát tình hình thực tế, thiết kế phương án cấp điện tối ưu và lựa chọn nhà thầu triển khai thi công. Vượt lên những khó khăn về địa hình, thời tiết, doanh nghiệp tư nhân xây dựng Ngọc Quyết đã bảo đảm đúng tiến độ và chất lượng công trình. Sau gần 4 tháng thi công, đơn vị đã xây dựng xong 14 vị trí cột, kéo 2.680 mét đường dây 35kV, 4,5km đường dây 0,4kV, lắp cho mỗi hộ một công tơ, bảng điện, ổ điện và một bóng điện. Đồng thời, cán bộ Điện lực Mường La đã đến từng hộ hướng dẫn cách sử dụng an toàn, tiết kiệm điện cho bà con.
Gần trưa, mọi công việc chuẩn bị đã xong, trước sự chứng kiến của bà con dân bản, công nhân Điện lực Mường La chính thức đóng điện, đưa điện lưới quốc gia về với các bản vùng cao. Dòng điện bừng sáng trong mỗi nhà, ai cũng hân hoan, phấn khởi, dòng điện sáng đã đánh dấu một sự đổi thay trong cuộc sống của bà con. Tại nhà trưởng bản Sồng A Sông, chiếc ti vi mua từ lâu rất hiếm khi được mở, giờ vừa bật lên là người già, trẻ em trong bản đã kéo đến xem chật cả nhà.
Ông Sồng A Dua, năm nay gần 60 tuổi ở bản Nong Phụ cũng mừng ra mặt: Tôi sống ở bản này từ năm 1977 chỉ biết cái đèn dầu. Từ khi xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, buổi tối nhìn xuống thấy điện sáng, chỉ mong sao bản mình có điện. Hôm nay điện về bản rồi, mừng lắm, chiều phải bảo mấy cháu bắt con dê mổ ăn mừng. Bản đã có điện, lớp học cắm bản cũng đang được xây dựng, chỉ mong sao nhà nước sửa lại con đường để bà con đi lại và tiêu thụ sản phẩm đỡ vất vả hơn.
Còn anh Sùng A Dũng, bản Pa Toong cũng không dấu được niềm vui: Vụ ngô năm nay được mùa, tôi phải bán đi để mua cái ti vi về để biết tin tức, học cách làm giàu và cho các cháu xem mới được.
Dòng điện sáng, niềm mong ước bao đời của bà con Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong đã thành hiện thực. Dòng điện thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và ngành điện đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Chia tay bà con Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong, cuộc sống nơi vùng cao này đang thay đổi, mở ra một cơ hội xóa đói, giảm nghèo bền vững. Phía xa, dưới chân đồi, nhà máy thủy điện Sơn La đang tuôn dòng điện sáng.
Bà con các bản Nong Phụ, Thẩm Hon và Pa Toong vui mừng đón điện về bản.

Cán bộ Điện lực Mường La hướng dẫn bà con bản Nong Phụ cách sử điện an toàn, tiết kiệm.
Một số hình ảnh khác:






Ghi chép: Ngọc Thuấn