Trong 5 năm tới đây, khả năng đáp ứng đủ nhu cầu điện cho sản xuất, kinh doanh và mức tiêu thụ điện sinh hoạt của người dân cũng gia tăng rất mạnh, nhu cầu, khối lượng dự án đầu tư phát triển nguồn điện rất lớn là một thách thức lớn đòi hỏi một nguồn lực đầu tư khổng lồ và nguồn lực tài chính vô cùng lớn để thực hiện.
Các đại biểu dự buổi tọa đàm. Từ trái qua: ông Đinh Thế Phúc, Phó Cục trưởng Cục Điều tiết Điện lực (ĐTĐL); TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; ông Franz Genner,Trưởng nhóm chuyên gia Năng lượng, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam
Những năm qua, nhờ có đầu tư lớn, liên tục và đa dạng từ nguồn vốn đầu
tư nhà nước qua các tập đoàn, lớn nhất là Tập đoàn Điện lực Việt Nam
(EVN) và các Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Dầu khí
Việt Nam (PVN) và nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, hệ thống nguồn
điện Việt Nam đã không ngừng được phát triển, hiện đã đạt gần 39.000 MW,
đáp ứng đủ nhu cầu điện cho nền kinh tế và sinh hoạt của người dân, bảo
đảm cân bằng cung, cầu điện và có dự phòng.
Mới đây, tại cuộc họp với các bộ ngành liên quan và EVN, Thủ tướng
Chính phủ đã yêu cầu phải thực hiện đầy đủ các giải pháp để bảo đảm đầu
tư phát triển nguồn điện theo Tổng sơ đồ VII hiệu chỉnh. Theo đó, trong
giai đoạn 2016-2030 nhu cầu nguồn điện tăng thêm là 95.852 MW (bình
quân ~6.400MW/năm). Riêng giai đoạn 2016-2020, cần đưa vào vận hành
21.650MW (~4.330MW/năm). Trong đó EVN chỉ có thể đảm bảo khoảng 7.185MW
(bằng 33,2%), còn lại gần 14.500MW (66,8%) do các doanh nghiệp khác đầu
tư. Đây thực sự là bài toán rất khó. Trong khi đó, chi phí sản xuất điện
đang có xu hướng gia tăng nhanh, ảnh hưởng lớn giá thành sản xuất
điện.
Để làm rõ hơn vấn đề này, ngày 15-11, Báo Dân trí tổ chức buổi Toạ đàm
"Cung ứng điện giai đoạn 2016-2020: Nguy cơ thiếu điện và giải pháp".
Tham dự Tọa đàm có ông Đinh Thế Phúc, Phó Cục trưởng Cục Điều tiết Điện
lực (ĐTĐL); TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam; ông
Franz Genner, Trưởng nhóm chuyên gia Năng lượng, Ngân hàng Thế giới (WB)
tại Việt Nam.
Nhu cầu đầu tư lớn
Cục trưởng ĐTĐL Đinh Thế Phúc cho biết, ngày 18-3-2016, Thủ tướng Chính
phủ đã ký Quyết định 428/QĐ-TTg phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát
triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030. Theo
đó, đến năm 2020, tổng công suất hệ thống phải đạt 60.000 MW, nghĩa là
trong 5 năm 2016-2020, cần đưa vào thêm 21.650 MW công suất. Theo ước
tính của Viện Năng lượng, số tiền đầu tư nguồn điện từ nay đến năm 2020
là gần 30 tỷ USD. Đó là chưa kể việc xây dựng lưới điện truyền tải. Tổng
số tiền cần đầu tư trong giai đoạn này là 40 tỷ USD. Tức mỗi năm gần
7,9 tỷ USD, đủ để cung ứng điện trên toàn quốc. Tuy nhiên, việc dự phòng
thấp nên phải đòi hỏi người dân, doanh nghiệp sử dụng điện tiết kiệm.
Để giảm đầu tư vào lưới điện, giảm rủi ro mất cân bằng cung cầu nhưng
vẫn đòi hỏi ngành điện đầu tư đủ cho nhu cầu điện.
Ông Trần Đình Thiên đánh giá, chúng ta đang đối mặt với nhiều vấn đề
gay gắt như: đầu tư rất lớn, khả năng cung ứng vốn ít và còn hàng loạt
vấn đề khác đặc biệt là vấn đề môi trường và hiệu quả. Bàn đến vấn đề
điện phải bàn đến vấn đề cung điện, nhưng cung như thế nào, cung cho cái
gì? Thiếu hay thừa, có vấn đề gì về ô nhiễm?... Chỉ có một mình EVN
đứng ra cáng đáng thì rất khó. Thiếu điện còn do dùng điện chứ không chỉ
do cung cấp điện. Cho nên, cần phải thấy mức độ gay gắt của vấn đề để
xét cả 2 chiều. Đây là giải pháp chiến lược, phải làm chứ không cứ đuổi
theo nhu cầu thì cạn kiệt hết tài nguyên. Trước tiên là phía tiêu dùng
năng lượng, chúng ta duy trì một nền kinh tế tiêu tốn năng lượng, sử
dụng năng lượng quá nhiều, cần phải thay đổi, chúng ta phải tái cơ cấu.
Một nền kinh tế tiêu tốn năng lượng quá nhiều khiến chúng ta phải gồng
lên để cung ứng. Do đó, cần phải thay đổi tiếp cận, nền kinh tế này nên
tính thế nào để tiêu dùng năng lượng. Cứ làm xi-măng, làm thép, đủ các
loại doanh nghiệp sử dụng năng lượng tốn kém. Tư duy đó phải thay đổi và
phải là trọng tâm để thay đổi mô hình tăng trưởng nếu không thì không
trời đất nào chịu được. Hiện nay, cứ tăng trưởng GDP 1 thì năng lượng
tăng 1,8. Không chỉ GDP ảnh hưởng tới tiêu dùng năng lượng mà còn là đô
thị hoá, sự can dự của công nghệ. Việt Nam đô thị hoá tăng, du lịch
tăng, khiến tiêu thụ tăng nhưng đi kèm là tiêu hao năng lượng. Do đó,
cần có cải tiến về công nghệ. Giá năng lượng cũng ảnh hưởng tới tiêu
dùng năng lượng. Phải tính tới cân bằng năng lượng trên cơ sở giá điện,
không nương theo dư luận xã hội. Nếu không tính tới lợi ích tổng thể,
muốn nhiều điện lại muốn giá điện rẻ. Điểm này cũng quyết định có thu
hút được vốn vào ngành điện hay không.
Ông Franz Genner cho biết, WB đã hỗ trợ cho ngành điện Việt Nam nhiều
năm qua. Đây là buổi toạ đàm kịp thời, quan trọng để cùng thảo luận
những vấn đề liên quan nguồn cung điện và nguồn vốn cho ngành điện. Về
đầu tư vào ngành điện là vấn đề chúng ta phải quan tâm. Mỗi năm Việt Nam
cần trung bình 5 tỷ USD để đầu tư vào lưới truyền tải và phát điện,
trong đó, Việt Nam kỳ vọng thu hút được 70% nguồn vốn từ tư nhân. Với
giá điện hiện nay, để thu hút được như vậy khá là khó. Từ trước đến nay,
nguồn đầu tư 1/3 dựa vào ODA. Với số lượng, mức độ phát triển như hiện
nay, nguồn tài trợ có hạn. Về những vấn đề về bảng cân đối của EVN, bao
gồm vốn, chênh lệch tỷ giá hối đoái… khiến EVN khó khăn hơn về nguồn
vốn.
Giải pháp về phía cầu, tiêu thụ năng lượng là giải pháp rất quan trọng
và ít tốn kém nhất để chúng ta có thể tránh được những đợt tăng giá điện
mới. Theo như ước tính Việt Nam có thể tiết kiệm 10GW phát điện nếu đầu
tư công nghệ vào những doanh nghiệp sử dụng điện. Về phía cung, trước
đây, Việt Nam đã rất thành công trong việc tạo nên các nguồn điện từ
nhiệt điện than, mang đến nguồn điện giá rẻ. Tuy nhiên, những nguồn lực
nội địa không đủ cung ứng trong tương lai nên phải nhập khẩu than. Việt
Nam đang kỳ vọng dựa vào nguồn năng lượng tái tạo như gió, mặt trời… tuy
nhiên đầu tư vào nguồn năng lượng này khá tốn kém. Như vậy, điều này có
liên quan tới biểu giá điện. Biểu giá điện hiện nay không đủ cao để hấp
dẫn đầu tư trong tương lai.
Về độ dự phòng điện, ông Đinh Thế Phúc cho biết thêm, mấy năm gần đây,
độ dự phòng điện ở phía Nam rất thấp. Giải pháp hiện nay là truyền tải
từ miền Bắc và miền Trung vào cung ứng cho miền Nam. Với tốc độ tăng
trưởng nhu cầu điện ở Việt Nam rất cao thì đòi hỏi các dự án đầu tư phải
đảm bảo đúng tiến độ cam kết thì mới có thể giảm bớt chênh lệch, cân
bằng nguồn cung cầu. Với tình trạng như thế, Việt Nam có thiếu điện
không? Vấn đề là cân bằng ở khu vực thôi. Giữa các miền có đường dây
truyền tải hỗ trợ lẫn nhau để giảm việc thiếu điện ở khu vực. Hiện đường
dây 500kV giữa miền Trung và miền Nam đã có 3 mạch nên khả năng truyền
tải lên đến 4.000 MW. Đấy còn chưa kể những đường dây 220kV đã liên kết
giữa các vùng với nhau.
Chính vì vậy, năm 2017, sẽ không xảy ra tình trạng thiếu điện cho miền
Nam nói riêng và toàn quốc nói chung. Chúng ta cũng đã thực hiện cân
bằng cung cầu trong kế hoạch cung cấp điện năm 2017. Hiện nay, Cục Điều
tiết điện lực (ĐTĐL) cũng đang rà soát lại các chỉ tiêu để bảo đảm cân
bằng, để đưa kế hoạch vận hành tối ưu. Cục ĐTĐL mong muốn rằng mọi khách
hàng sử dụng điện phải tiết kiệm, điều đó bảo đảm cân bằng cung cầu đỡ
nặng hơn và nhu cầu đòi hỏi cung ứng thêm cũng sẽ giảm bớt đi. Điều này
sẽ ảnh hưởng tới chi phí của các doanh nghiệp sản xuất cũng như của các
gia đình. Công nghệ phát triển cũng rất nhau, nhiều thiết bị tiết kiệm
điện có thể sử dụng trong gia đình, doanh nghiệp cũng có nhiều công nghệ
tiết kiệm hơn.
Cân đối giá điện hợp lý
Ông Trần Đình Thiên đánh giá, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là khu
vực có khả năng bùng nổ nhất trong nền kinh tế, hiện vẫn chiếm tới 50%
GDP quốc gia, quyết định tới toàn nền kinh tế. Nền kinh tế cũng chịu ảnh
hưởng của hội nhập, và tập trung nhiều cơ sở kinh tế trọng điểm. Khu
vực này chính là trung tâm hội nhập của kinh tế Việt Nam. Khi bước vào
giai đoạn hội nhập cao thì đây là khu vực phát triển, và phụ thuộc nhiều
vào cung ứng điện ổn định. Do đó, muốn thu hút nhà đầu tư tốt thì phải
tính tới giá điện tốt. Hiện giá điện đang ở thế “lưỡng nan”, giá điện
tăng cao là xã hội phản ứng rất mạnh. Nếu giá điện không được cải thiện
thì không ai muốn bỏ vốn đầu tư phát triển nguồn điện cả. Người ta sử
dụng công nghệ thấp, tiêu dùng điện năng không hiệu quả dẫn đến đất nước
phải trả giá cho nền kinh tế dựa trên công nghệ thấp. Trong khi giá cao
một chút buộc người sản xuất, người tiêu dùng phải sử dụng điện tiết
kiệm. Giá điện cao cũng khiến họ phải thay đổi công nghệ và nhà đầu tư
sẵn sàng đầu tư vào ngành điện. Mỗi năm chúng ta cần 6-8 tỷ USD đầu tư,
trong khi giá điện thấp thì khó khiến nhà đầu tư tham gia. Do đó, vấn đề
tái cơ cấu nhất thiết phải đặt ra, trong đó phải yêu cầu doanh nghiệp
cải thiện công nghệ. Giá điện còn phải gắn với vấn đề tiền lương.
Ông Franz Genner cho rằng, về quy hoạch hệ thống điện, Việt Nam không
phải là nước kém so với các nước cùng trình độ phát triển. Việt Nam đã
nhìn nhận được nguy cơ thiếu điện trong tương lai. Thách thức ở đây là
nhu cầu tiêu thụ điện cần tăng 10%/năm và phải phát triển thêm nguồn
nhiệt điện; đồng thời, các nhà máy nhiệt điện phải dựa vào nguồn than
nhập khẩu; phát triển nguồn điện năng lượng mặt trời. Nếu không phát
triển điện mặt trời thì có nghĩa là cần thêm than. Và điều này lại quay
lại vấn đề về giá điện, chi phí giá điện. Với giá 7,6 cent/kWh hiện nay,
khó thu hút đầu tư vào giá điện. Ước tính giá này đủ để đáp ứng chi phí
vận hành, bảo trì của EVN. Nếu quan tâm tới biểu giá điện đầy đủ, tới
năm 2030 phải tăng giá điện thêm 40%. Nếu không làm điều đó thì cần sự
trợ giúp rất nhiều từ nhà tài trợ, doanh nghiệp. WB đã có phân tích về
việc tăng giá điện với hộ nghèo, vùng sâu và với biểu giá bậc thang, sự
hỗ trợ từ Nhà nước sẽ không phải là vấn đề nếu tăng giá điện. Và với các
cơ quan phát triển, với những gia đình sử dụng hơn 10% để trả tiền
điện. Chúng tôi dự kiến với mức tăng dự kiến thì hộ gia đình sẽ phải trả
4-5% thu nhập cho tiền điện. Như vậy, với ý kiến của TS Trần Đình Thiên
và phân tích của WB thì để bền vững và lâu dài, việc tăng giá điện sẽ
không ảnh hưởng nhiều tới những hộ nghèo, người thuộc diện khó khăn nếu
chúng ta kết hợp việc tính giá điện bậc thang và những hỗ trợ từ Chính
phủ. Ông F.Genner cũng cho rằng, Chính phủ cần đặt ra vấn đề giảm sử
dụng điện than mà thay vào là điện gió mặt trời. Những tổ chức như WB
cần hỗ trợ cho Chính phủ vì việc phát triển điện gió, điện năng lượng
mặt trời còn đắt đỏ. EVN và Chính phủ đã có hướng đi tốt và sẽ giúp giảm
sự phụ thuộc vào nhiệt điện than.
Ông Franz Genner cũng thông tin cho biết, chắc chắn khi so với các nước
trong khu vực và thế giới, giá điện Việt Nam khá là thấp, kể cả so với
nước cùng trình độ phát triển trong khu vực. Việt Nam đang khai thác
nguồn lực tốt từ nhiệt điện than, thuỷ điện, điện khí… Trong tương lai,
Việt Nam không đủ nguồn lực để phát triển nữa, sẽ phụ thuộc vào than
nhập khẩu, năng lượng mới như điện gió mặt trời nên phải phụ thuộc vào
việc phải điều chỉnh giá điện tăng lên.
■ Ông Đinh Thế Phúc, Trần Đình Thiên và F.Genner cũng
trả lời nhiều câu hỏi của độc giả gửi tới cũng như một số câu hỏi của
các nhà báo tham dự Tọa đàm, tập trung làm rõ các vấn đề khả năng bảo
đảm cung ứng điện trong năm tới, nhất là vào dịp cao điểm nắng nóng.
Ông Đinh Thế Phúc thông tin, miền Nam có độ dự phòng thấp, miền Bắc và
miền Trung thì cao hơn. Mấy năm qua và năm tới, cân đối của Cục ĐTĐL thì
chúng ta vẫn đảm bảo không thiếu điện toàn quốc bởi đã có nguồn dự
phòng dồi dào từ miền Bắc và miền Trung. Vừa qua có hộ dân mất điện là
do cục bộ, quá tải, sự cố. Hiện nay có quy định để Sở Công thương giám
sát thời gian mất điện của khách hàng. Chỉ số yêu cầu Công ty điện lực
thống kê lại, số lần, giờ mất điện hàng tháng quý năm là bao nhiêu. Với
nỗ lực đó thì số giờ mất điện giảm, năm sau thấp hơn năm trước 20%. Yêu
cầu tới năm 2020 mỗi năm giảm 15%. Chỉ số độ tin cậy tiếp cận điện đã
được Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh Doing Business của WB tăng
hạng liên tục.
Ông Phúc cũng lưu ý, các dạng năng lượng đều có tính hai mặt. Năng
lượng sạch tốt cho môi trường tốt hơn nhưng không phải không có ảnh
hưởng. Điện gió có tiếng ồn lớn, ảnh hưởng khu vực chung quanh, việc
trồng cây bị hạn chế hơn. Điện mặt trời chiếm diện tích lớn, chưa kể giá
thành cao. Cần phải có cơ chế khuyến khích thì mới phát triển được.
Nhìn vào nguồn năng lượng nội địa, than khí thì gần như đã ở mức bão
hoà. Than nội địa, giờ phải nhập vì khả năng than hết, các mỏ khí ở phía
Nam bắt đầu vào thời kì suy giảm. Do đó, mọi đầu tư, công nghệ nào cũng
đều có 2 mặt, phải nhìn nhận từ 2 phía.
Về các dự án đầu tư BOT, ông Đinh Thế Phúc nêu quan điểm đã đầu tư thì
phải có cam kết. Chúng ta phải tính tới cam kết phải có bảo lãnh,đặt cọc
hoặc các hình thức bảo lãnh khác. Ngoài ra, còn nhiều dự án, phải xem
xét đủ hấp dẫn cho nhà đầu tư vào hay chưa. Nếu kêu gọi thì chỉ phần nào
đó thôi, cái chính có chính sách hấp dẫn.
Ông Franz Genner cho rằng, sắp tới, nếu không thu hút được nguồn vốn tư
nhân thì gánh nặng đầu tư sẽ quay trở lại với EVN. Nhà đầu tư tư nhân
cần có cam kết dài hạn, và để được vậy thì cần biểu giá điện hấp dẫn.
Nhà đầu tư cũng cần bảo đảm từ phía Chính phủ. Đây là thách thức lớn
trong tương lai. Và như vậy thì quay lại vấn đề mấu chốt là làm thế nào
để EVN thành đơn vị bền vững về tài chính và điều đó lại trở lại vấn đề
giá điện.
Ông Đinh Thế Phúc bổ sung: nguồn điện không nên quá tập trung vào EVN.
Ngoài những dự án chiến lược phải do EVN nắm giữ thì một số khác chuyển
chủ sở hữu, có kế hoạch cổ phần hoá. EVN còn nhiệm vụ quan trọng là
trường hợp nhà đầu tư nào đó dừng thì Tập đoàn phải đứng ra lo đầu tư,
thực tế đã có dự án như vậy.
Về giá điện, TS Trần Đình Thiên nêu rõ thêm, chúng ta phải tư duy lại
về giá điện, nhất là cơ chế định giá. Cơ chế chúng ta có vấn đề, cứ nới
lên nới lên. Câu chuyện là tiếp cận thị trường, cơ chế theo thị trường.
Lương cũng thế, thường lương của chúng ta chưa tăng đã lạc hậu so thị
trường. Giá cả là hệ thống tương đối đồng bộ. Tiếp cận về giá phải theo
giá bậc thang, theo thị trường.
Chúng ta quá thiên về huy động nguồn lực mà bỏ qua phân bổ nguồn lực
sao cho hiệu quả. Cơ bản nhất là cơ cấu kinh tế như thế nào theo hướng
công nghệ cao, hiệu quả năng lượng sau đó, bàn tới dự án điện như thế
nào. Ông Thiên cho rằng, vốn không thiếu, đặc biệt trong bối cảnh hội
nhập như hiện nay, mà chỉ thiếu chính sách tốt. Dự án điện mà giá bán
điện như hiện nay không bảo đảm hiệu quả. Về quản trị cũng suy từ giá
ra. Tiếp cận về vốn chính là câu chuyện về giá. Quan trọng lầ cơ chế chứ
không phải lo chuyện tăng giảm, cơ chế thị trường sẽ tự điều chỉnh.
Qua buổi tọa đàm này, mặc dù còn có một số ý khác nhau nhưng ý kiến
chung các vị khách mời đều thống nhất cho rằng, hiện nay, nhu cầu vốn
đầu tư cho phát triển nguồn điện, phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh,
tăng trưởng kinh tế đất nước và nhu cầu điện sinh hoạt của nhân dân rất
lớn. Để đạt được điều này, cần có cơ chế thu hút vốn đầu tư hấp dẫn, khả
thi để huy động các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng
các nhà máy điện mới thực hiện chủ trương "điện phải đi trước một bước"
trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một trong những vướng mắc lớn nhất
hiện nay là giá điện đã lạc hậu trong khi chi phí sản xuất điện năng
trong hầu hết các lĩnh vực sản xuất: nhiệt điện, thuỷ điện...đều có xu
hướng gia tăng mạnh.
Đã đến lúc phải tìm giải pháp. Điều chỉnh giá điện cũng là một trong
những giải pháp cần thiết nhưng thực hiện điều chỉnh giá điện như thế
nào, mức độ bao nhiêu, cũng cần phải tính toán cho hợp lý, chính xác.
Ngành điện cần phải minh bạch giá thành ...để người dân, doanh nghiệp,
các chuyên gia kinh tế đều thấy rằng, yêu cầu điều chỉnh giá điện hiện
nay là khách quan, cấp thiết.