Tôi không băn khoăn nhiều về việc nhận căn hộ mà Phó Thủ tướng có nhã ý tặng. Tôi sẽ sử dụng căn hộ này trong thời gian về nước làm việc. Những lúc khác, căn hộ sẽ được sử dụng để đón tiếp khách nước ngoài đến làm việc ở Viện Toán.
Ông Đào Hồng Tuyển cũng có nhã ý tặng tôi một biệt thự ở Tuần Châu. Về việc này, tôi đã gọi điện thoại cho ông Tuyển để bày tỏ sự trân trọng của tôi đối với nhã ý của ông Tuyển. Tuy nhiên, tôi không có ý định nhận quà từ các cá nhân. Tôi có chia sẻ với ông Tuyển ý định của tôi thành lập một quỹ khuyến học. Quỹ này có thể tiếp nhận đóng góp của các cá nhân để dùng vào mục đích khuyến học.
![]() |
|
GS.Ngô Bảo Châu, người được kỳ vọng sẽ đem lại giải thưởng Fields danh giá cho Việt Nam. |
- GS đánh giá thế nào về môi trường nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Hiện tại, chúng ta đang ở vị trí như thế nào so với các nước tiên tiến trên thế giới?
Theo tôi quan sát ở Việt Nam, nghiên cứu khoa học vẫn chưa được coi là nhiệm vụ hàng đầu tại các trường đại học. Thực tế là hầu như chưa có nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế. Đáng ra các trường đại học phải làm đầu tầu cho việc này.
- GS đánh giá như thế nào về những chính sách đãi ngộ của Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đối với những nhà khoa học muốn được về Việt Nam làm việc. Liệu chính sách đó đã thực sự thông thoáng và đã tạo các điều kiện thuận lợi giúp các nhà khoa học Việt ở nước ngoài có điều kiện đóng góp công sức vào sự phát triển nền khoa học nước nhà?
Tôi có thấy một số chuyển biến tích cực trong chính sách đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học cơ bản. Điển hình là sự ra đời của quỹ Nafosted. Các chỉ tiêu chọn lọc đã trở nên minh bạch hơn. Sự hỗ trợ của Nafosted cũng tập trung nhiều hơn vào những người đang làm khoa học thay vì những người đã làm khoa học.
Cái khó gỡ nhất vẫn là chuyện tiền lương cho những nhà khoa học trẻ. Nhà nước có đầu tư nhiều vào việc đào tạo Tiến sỹ ở nước ngoài thông qua chương trình 322, nhưng chưa có phương án nào để cuốn hút họ quay lại, ngoài những gò bó về hành chính. Tân tiến sỹ khi quay về Việt Nam chỉ nhận mức lương 1,8 triệu một tháng. Nghiên cứu sinh trong nước không có học bổng, mà phụ thuộc hoàn toàn vào kinh phí đề tài nghiên cứu của người hướng dẫn.
Đầu tư thích đáng vào các nhà khoa học trẻ và vào đội ngũ nghiên cứu sinh trong và ngoài nước là việc chúng ta cần làm hôm nay để chuẩn bị cho năm, mười năm nữa.
GS Ngô Bảo Châu hiến kế để phát triển nền khoa học nước nhà (Ảnh: Việt Dũng)

- Cách mà các nước trên thế giới thu hút nhân tài như thế nào? Liệu Việt Nam có thể học tập và làm theo các cách đó được không, thưa giáo sư!
Họ thu hút nhân tài dựa vào cả chính sách đãi ngộ vật chất và cả hứa hẹn phát triển công việc. Đãi ngộ vật chất thì chắc chúng ta không đua được, nhưng ít nhất cũng cần có phương án để các nhà khoa học có một cuộc sống ở mức trung bình của xã hội mà vẫn có thể chuyên tâm vào công việc. Để phát triển công việc, các nhà khoa học trẻ cần những nhóm nghiên cứu năng động, và phương tiện kỹ thuật cho việc nghiên cứu của mình. Họ cũng cần hỗ trợ cho việc trao đổi, đi lại để không bị cô lập trong môi trường quốc tế.
- Là một người đã từng giảng dạy Toán tại nhiều trường ĐH hàng đầu thế giới, GS nhận xét gì về cách học của sinh viên Việt Nam và sinh viên nước ngoài?
Nói chung, sinh viên được đào tạo ở nước ngoài có kiến thức cơ bản vững vàng hơn, và có tác phong làm việc chủ động, độc lập hơn. Tất nhiên có một số ngoại lệ.
- Đất nước chúng ta không thiếu những học sinh có năng khiếu về Toán học, minh chứng là trong các cuộc thi Toán học quốc tế, các học sinh Việt Nam đều có giải, thậm chí là giải cao nhất của cuộc thi. GS cho rằng “con đường đơn giản khả thi để các em trở thành các nhà khoa học là phải đi học ở nước ngoài. Đây là thực tế đáng buồn”. Như vậy liệu có phải nền giáo dục Việt Nam rất khó để có thể đào tạo ra những nhà khoa học thực sự, mang tầm cỡ thế giới?
Các trường đại học của ta cần một sự thay đổi sâu sắc về chất. Cụ thể hơn là về nhân sự khoa học. Nếu ta không có ý thức tổ chức một lớp cán bộ giảng dạy trẻ, có tâm huyết với khoa học và giảng dạy ngay từ bây giờ, thì sẽ không có hy vọng đào tạo ra những nhà khoa học thực sự.
![]() |
| GS Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng toán học Clay năm 2004. |
- Hiện nay, ở nước ta các trường chuyên, lớp chọn được thành lập nhưng cũng chỉ để đào tạo học sinh tham gia các kỳ thi HSG Quốc gia và một chút là cho các kỳ thi Olympic Quốc tế. Phải chăng chúng ta chưa nghĩ đến một kế hoạch dài hơi là việc đào tạo một đội ngũ các nhà khoa học thực sự trong các lĩnh vực đó?
Tôi đồng ý với nhận xét này.
- Chúng ta không phủ nhận rằng môi trường làm khoa học ở Việt Nam vẫn còn nhiều điều phải bàn. Nhưng liệu đó có phải là lý do để các nhà khoa học Việt Nam sau khi được đào tạo ở nước ngoài thì cũng không có ý định về nước làm việc?
Sự thay đổi sẽ đến từ sự đấu tranh bền bỉ của các nhà khoa học, và sự chuyển biến tư duy của lãnh đạo các trường các viện nghiên cứu cũng như các cơ quan hoạch định chính sách.
- Theo quan điểm của GS, học ở nước ngoài đến trình độ nào, làm được những công trình như thế nào thì các nhà khoa học Việt Nam về nước làm việc là hợp lý?
Thường thì phải xong giai đoạn postdoc (*), bạn mới trở thành một nhà khoa hoc cứng cáp. Cái khó nhất là đó cũng chính là lúc bạn có cơ hội việc làm lâu dài ở các trường đại học nước ngoài. Nhìn từ trong nước, chúng ta cần lôi kéo các bạn trẻ về làm một phần postdoc ở Việt Nam, để sau đó sự lựa chọn làm việc ở Việt Nam trở nên dễ dàng hơn.
- TS Nguyễn Hữu Ninh, người từng được xướng tên tại lễ trao giải Nobel Hòa Bình năm 2007 cho rằng “Thế giới hiện nay là một thế giới phẳng, làm việc ở đâu không quan trọng, chúng ta hoàn toàn có thể ngồi ở Việt Nam nhưng cũng có những công trình mang tầm vóc thế giới”. TS Ninh cũng cho rằng, hiện nay kho tài liệu tri thức của nhân loại đang được sẻ chia dễ dàng hơn bao giờ hết, giao thông thuận tiện cũng giúp các nhà khoa học hàng đầu thế giới trong các lĩnh vực có thể trao đổi dễ dàng với nhau mà không mất nhiều thời gian. Liệu ý kiến trên có khiến các nhà khoa học Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài phải lưu ý?
Thế giới phẳng làm bớt khó khăn cho việc làm khoa học ở các nước đang phát triển. Nhưng nó vẫn còn rất khó. Trong thực tế, bạn vẫn phải cạnh tranh với những nơi có mọi điều kiện tốt hơn.
- Trong Đề án phát triển toán học Việt Nam giai đoạn 2010-2020 sẽ được phê duyệt trong thời gian tới, việc thành lập Viện nghiên cứu và đào tạo toán học cao cấp là một nội dung hết sức quan trọng. Theo GS đề án này sẽ có tác dụng như thế nào. Ông có kỳ vọng gì vào những kết quả mà Viện sẽ đạt được trong tương lai?
Tôi hy vọng Viện sẽ lôi kéo được một số nhà toán học Việt Nam trẻ, mới làm xong bậc tiến sỹ, về làm việc. Viện sẽ ưu tiên phương án làm việc theo nhóm, kết hợp với các nhà khoa học đang làm việc trong nước, nước ngoài và cả những ngành khoa học khác. Viện còn một số hướng khác nữa, nhưng tôi không có thời gian để bàn thêm hôm nay.
- GS đã học được những gì từ những người thầy của mình như anh Phạm Ngọc Hùng, anh Lê Tuấn (hiện là Phó Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam), anh Vũ Đình Hòa…
Những người nêu tên ở trên rất thân thiết với tôi trong thời gian tôi học phổ thông và cả sau này. Chính họ đã truyền cho tôi cái virus yêu toán.
- Xin cảm ơn GS về cuộc trò chuyện thú vị này và xin chúc GS thành công tại Đại hội Toán học thế giới sắp tới!
Theo VTC

